Dự toán làm đường là bảng tính giá công trình bằng cách nhân khối lượng từng công việc với đơn giá của nó, rồi cộng thêm các khoản chi phí chung, thuế. Đơn giá mỗi công việc lại được ghép từ ba phần: vật liệu, nhân công và ca máy. Người đi thuê không cần thuộc định mức, nhưng nếu biết đọc bảng khối lượng và hiểu ba thành phần đơn giá thì có thể tự kiểm phần lớn lỗi hay gặp.
Bài này đi theo đúng thứ tự một bảng dự toán đường thường có: khối lượng đào đắp nền, các lớp móng, lớp mặt, thoát nước, rồi tới đơn giá và chi phí chung. Số liệu trong bài là ví dụ giả định để minh hoạ cách tính, không phải đơn giá hay định mức áp dụng thật.
Bố cục một bảng dự toán đường và đọc từ đâu
Một dự toán đầy đủ thường có: bảng tổng hợp (tổng tiền theo nhóm hạng mục), bảng chi tiết (từng công việc, đơn vị, khối lượng, đơn giá, thành tiền), bảng phân tích đơn giá (mỗi đơn giá gồm vật liệu gì, bao nhiêu công, bao nhiêu ca máy), và bảng giá vật liệu đến chân công trình. Với công trình nhỏ do nhà thầu tư nhân lập, có khi chỉ có bảng chi tiết và bảng tổng.
Đọc từ bảng khối lượng trước, đơn giá sau. Lý do: sai khối lượng thường lớn hơn và dễ phát hiện hơn sai đơn giá. Một con đường dài 200 m, rộng 5 m có diện tích mặt 1.000 m²; nếu bảng ghi lớp bê tông nhựa 1.300 m² thì phải hỏi phần 300 m² dư là ở đâu (chỗ mở rộng, sân quay đầu, nút giao) hay tính nhầm.
Sau đó mới xem đơn giá có hợp lý không, và cuối cùng xem các khoản cộng thêm ở bảng tổng hợp. Đi theo thứ tự này giúp không bị cuốn vào việc mặc cả từng đơn giá nhỏ trong khi khối lượng sai cả trăm mét khối.
Các nhóm khối lượng thường gặp và cách tự kiểm
Lấy chiều dài, bề rộng và chiều dày trên mặt cắt thiết kế, có thể tự nhẩm khối lượng gần đúng để đối chiếu. Bảng dưới dùng ví dụ giả định đường dài 200 m, mặt rộng 5 m, nền rộng 6 m:
| Công việc | Đơn vị | Cách nhẩm gần đúng | Ví dụ giả định |
|---|---|---|---|
| Đào bỏ đất hữu cơ | m³ | Dài × rộng nền × chiều sâu đào | 200 × 6 × 0,3 = 360 m³ |
| Đắp nền bằng vật liệu tốt | m³ (đã lèn) | Dài × rộng nền × chiều dày đắp | 200 × 6 × 0,5 = 600 m³ |
| Móng cấp phối đá dăm | m³ (đã lèn) | Dài × rộng lớp × chiều dày | 200 × 5,5 × 0,15 = 165 m³ |
| Tưới nhựa thấm bám | m² | Diện tích mặt lớp móng trên | 200 × 5 = 1.000 m² |
| Bê tông nhựa | m² hoặc tấn | Diện tích × chiều dày × khối lượng riêng | 1.000 m² × 0,07 m × khoảng 2,3 t/m³ ≈ 161 t |
| Rãnh, cống | m, cái | Đếm trên bản vẽ | Ví dụ 200 m rãnh, 1 cống |
Chú ý đơn vị "đã lèn" và "chưa lèn": đất, đá dăm khi chở đến còn tơi, sau khi lu lèn co lại. Dự toán đúng ghi khối lượng thiết kế đã lèn; phần vật liệu tơi cần mua nhiều hơn được tính trong định mức hoặc hệ số, không cộng thêm một dòng riêng nữa. Nếu thấy vừa có "hệ số đầm nén" trong đơn giá vừa có dòng khối lượng cộng thêm cho cùng việc, đó là dấu hiệu tính trùng.
Đơn giá gồm ba phần: vật liệu, nhân công, ca máy
Mỗi đơn giá trong dự toán được ghép từ ba thành phần. Vật liệu là lượng vật liệu cần cho một đơn vị công việc nhân với giá vật liệu đến chân công trình (đã gồm vận chuyển). Ví dụ một mét khối móng cấp phối đá dăm đã lèn cần nhiều hơn một mét khối đá tơi, cộng hao hụt. Nhân công là số công thợ cần cho một đơn vị công việc nhân với đơn giá ngày công. Ca máy là số ca của từng loại máy (máy san, lu rung, lu bánh lốp, máy rải, ô tô tưới nước…) nhân với giá ca máy.
Với công trình dùng vốn nhà nước, định mức và phương pháp lập đơn giá theo quy định hiện hành của ngành xây dựng. Với công trình tư nhân nhỏ, nhà thầu có thể dùng định mức tham khảo hoặc kinh nghiệm riêng. Người đi thuê không cần soát từng định mức, nhưng có thể hỏi: giá vật liệu chính (bê tông nhựa, cấp phối, xi măng) đang lấy từ đâu, đã gồm vận chuyển chưa; đội máy dự kiến gồm những máy gì.
Ca máy là chỗ hay bị thổi phồng hoặc tính trùng. Ví dụ lu lèn đã có trong đơn giá "làm móng cấp phối" nhưng bảng chi tiết lại có thêm dòng "lu lèn móng" riêng. Hoặc ô tô vận chuyển vật liệu đã có trong giá vật liệu đến chân công trình nhưng lại có dòng "vận chuyển" nữa. Đọc phần phân tích đơn giá hoặc hỏi thẳng nhà thầu đơn giá đã gồm những gì là cách nhanh nhất.
Lỗi hay gặp trong dự toán đường nhỏ
Tính diện tích mặt đường theo bề rộng nền. Mặt đường 5 m nhưng tính lớp nhựa theo nền 6 m, dư 20%. Kiểm bằng cách lấy bề rộng ở đúng lớp trên mặt cắt.
Chiều dày trong dự toán khác mặt cắt. Mặt cắt ghi bê tông nhựa 5 cm, dự toán quy đổi tấn theo 7 cm. Hoặc ngược lại: mặt cắt đẹp nhưng dự toán tính mỏng, nghĩa là thi công sẽ mỏng.
Đào đắp không có cơ sở. Khối lượng đào bỏ, đắp bù ghi tròn số lớn mà không có cao độ hiện trạng, không có mặt cắt ngang. Đây là hạng mục biến động nhiều nhất; nên yêu cầu đo cao độ trước khi làm và tính theo thực tế.
Thiếu hạng mục. Không có tưới nhựa thấm bám, không có cống, không có vận chuyển đất thừa. Thiếu thì giá đẹp, khi làm phát sinh.
Chi phí chung lặp lại. Cộng "chi phí hiện trường", "chi phí quản lý", "lán trại", "chi phí không xác định được khối lượng" rồi lại có "dự phòng" lớn. Mỗi khoản có lý do, nhưng cần hiểu từng khoản để làm gì và không trùng nhau.
Quy đổi bê tông nhựa giữa tấn và mét vuông: tự làm một lần
Bê tông nhựa thường mua theo tấn ở trạm trộn nhưng nghiệm thu theo mét vuông và chiều dày. Biết quy đổi giúp kiểm cả dự toán lẫn số xe chở đến. Các con số dưới đây là ví dụ giả định để minh hoạ cách tính:
- Lấy chiều dày lớp sau khi lu theo mặt cắt, ví dụ 7 cm = 0,07 m.
- Lấy khối lượng thể tích của bê tông nhựa đã lèn theo kết quả thí nghiệm của trạm; khi chưa có, bê tông nhựa chặt thường ở khoảng trên dưới 2,3 tấn mỗi mét khối.
- Khối lượng cho một mét vuông = 0,07 × 2,3 ≈ 0,161 tấn, tức khoảng 161 kg mỗi mét vuông.
- Nhân với diện tích: 1.000 m² × 0,161 ≈ 161 tấn.
- So với dự toán và với tổng phiếu cân các xe đã giao. Nếu dự toán ghi nhiều hơn rõ rệt mà diện tích không đổi, hỏi phần dư dùng vào đâu; nếu phiếu cân giao ít hơn rõ rệt, lớp đã rải có thể mỏng hơn thiết kế.
Có một khoản chênh hợp lý cho hao hụt, bù lún, chỗ mặt nền không phẳng, nhưng khoản này nên nhỏ và được giải thích. Đối chiếu cuối cùng vẫn là khoan lấy mẫu đo chiều dày sau khi thảm.
Chi phí chung, thuế và dự phòng: hỏi gì cho rõ
Ở bảng tổng hợp, sau tổng chi phí trực tiếp (vật liệu, nhân công, máy), dự toán thường cộng thêm chi phí chung (quản lý của nhà thầu, điều hành công trường), thu nhập chịu thuế tính trước (lợi nhuận), chi phí nhà tạm, chi phí một số công việc không tính được khối lượng (như đảm bảo giao thông, bơm nước), rồi thuế giá trị gia tăng, và có thể có dự phòng. Với công trình vốn nhà nước, các khoản này tính theo tỷ lệ và phương pháp do quy định hiện hành hướng dẫn; với công trình tư nhân, hai bên thoả thuận.
Người đi thuê nên hỏi: dự phòng dùng khi nào và ai quyết định chi; nếu không dùng thì có trừ khi quyết toán không. Một dự toán có dự phòng lớn mà hợp đồng trọn gói thì thực chất bạn trả luôn phần dự phòng đó cho nhà thầu dù rủi ro không xảy ra. Ngược lại, hợp đồng theo khối lượng thực tế thì dự phòng là con số tham khảo để bạn chuẩn bị tiền.
Một điểm nữa là giá đã gồm thuế hay chưa. So hai báo giá, một bên đã gồm thuế giá trị gia tăng, một bên chưa, là lỗi rất phổ biến khiến chủ đầu tư chọn nhầm. Ghi rõ trong yêu cầu báo giá rằng mọi giá phải nêu rõ đã gồm hay chưa gồm thuế.
Đội máy trong dự toán: nhìn danh sách máy để hình dung cách làm
Máy cho nền và móng. Một công trình đường bình thường cần máy đào hoặc máy ủi để đào bỏ, đắp; máy san để san phẳng từng lớp; lu rung để lèn chặt đất và cấp phối; ô tô tưới nước để giữ độ ẩm khi lu. Thiếu máy san mà chỉ có máy đào thì lớp móng thường gồ ghề, dày mỏng không đều. Thiếu xe tưới nước vào mùa khô thì cấp phối khó lu chặt.
Máy cho lớp mặt nhựa. Thảm bê tông nhựa cần máy rải, lu bánh thép và lu bánh lốp, thiết bị tưới nhựa. Đoạn đường nhỏ hẹp đôi khi rải thủ công một phần, nhưng nếu dự toán cho cả con đường vài nghìn mét vuông mà không có máy rải, nên hỏi cách đảm bảo độ bằng phẳng và chiều dày.
Máy cho mặt bê tông xi măng. Xe bồn chở bê tông, máy đầm dùi, đầm bàn hoặc thước đầm rung, máy xoa, máy cắt khe. Máy cắt khe là chi tiết nhỏ nhưng quyết định tấm bê tông nứt đúng chỗ hay nứt bừa.
Đọc số ca để nhận ra bất thường. Số ca máy phải tương xứng với khối lượng. Một đoạn đường vài trăm mét mà tính hàng chục ca lu, hoặc tính ca máy cho cả thời gian máy nằm chờ, là chỗ cần hỏi. Nếu nhà thầu thuê máy ngoài, hỏi họ thuê theo ca hay khoán khối lượng, vì cách thuê ảnh hưởng tới việc máy có ở công trường đủ thời gian cần thiết hay bị rút đi giữa chừng.
Câu hỏi thường gặp
Có cần thuê người thẩm tra dự toán cho công trình đường nhỏ không?
Với công trình nhỏ, chủ đầu tư thường tự kiểm khối lượng theo cách trong bài là phát hiện được phần lớn lỗi. Khi giá trị lớn, nhiều hạng mục đào đắp, cống, hoặc khi các báo giá lệch nhau nhiều không giải thích được, thuê một kỹ sư dự toán độc lập soát lại là khoản chi đáng giá.
Hệ số đầm nén là gì và vì sao làm khối lượng vật liệu tăng?
Vật liệu như đất, cấp phối khi chở đến còn tơi, có nhiều lỗ rỗng; lu lèn làm chúng chặt lại và giảm thể tích. Để có một mét khối đã lèn cần mua nhiều hơn một mét khối tơi. Hệ số này nằm trong định mức hoặc đơn giá; điều cần kiểm là nó không bị cộng hai lần.
Ca máy tính theo giờ hay theo ngày?
Trong dự toán, ca máy thường hiểu là một ca làm việc theo quy ước của định mức, giá ca đã gồm khấu hao, nhiên liệu, thợ lái và sửa chữa theo phương pháp tính. Khi thuê máy ngoài thị trường, đơn vị cho thuê có thể tính theo giờ, ca hoặc khoán khối lượng; cần hỏi rõ đã gồm nhiên liệu, người lái và vận chuyển máy chưa.
Dự toán có cần khớp tuyệt đối với khối lượng thi công thực tế không?
Không. Dự toán tính theo thiết kế; khi thi công, đào đắp và một số hạng mục có thể chênh vì điều kiện thực tế. Cách xử lý chênh lệch phụ thuộc loại hợp đồng: trọn gói hay theo khối lượng thực tế. Quan trọng là thoả thuận trước cách đo và xác nhận khối lượng phát sinh.
Đơn giá vật liệu trong dự toán lấy theo đâu?
Công trình vốn nhà nước thường dựa trên giá vật liệu do cơ quan có thẩm quyền ở địa phương công bố hoặc báo giá thị trường theo quy định hiện hành. Công trình tư nhân thì theo báo giá thực tế của nhà cung cấp. Chủ đầu tư có thể tự hỏi giá vài nhà cung cấp để đối chiếu, nhớ cộng phí vận chuyển đến chân công trình.
Thấy dòng chi phí đảm bảo an toàn giao thông thì có nên cắt không?
Không nên. Khi làm đường trên tuyến vẫn có người, xe qua lại, rào chắn, biển báo, đèn, người cảnh giới là bắt buộc để tránh tai nạn và là trách nhiệm của các bên. Có thể hỏi cụ thể khoản đó gồm những gì để chắc nó được làm thật.