Một phiếu kết quả thí nghiệm cầu đường đáng tin phải ghi được ai thử, thử theo phương pháp nào, mẫu lấy ở đâu khi nào và có ai chứng kiến, kết quả từng mẫu chứ không chỉ trung bình, yêu cầu để so sánh, và người chịu trách nhiệm ký. Thiếu những mục này, phiếu chỉ còn là một con số kèm chữ đạt, không truy lại được khi công trình có vấn đề.
Phần lớn kỹ sư và chủ đầu tư đều trung thực, và phần lớn phiếu thí nghiệm phản ánh đúng mẫu đã thử. Nhưng áp lực tiến độ là có thật, và một bộ hồ sơ toàn kết quả đẹp không chứng minh được công trình đẹp. Bài này hướng dẫn đọc phiếu theo thứ tự hợp lý, đối chiếu với các tài liệu khác, và nhận ra những mẫu hình bất thường, để bạn biết lúc nào nên hỏi thêm.
Các mục một phiếu kết quả cần có
Mỗi phòng thí nghiệm có biểu mẫu riêng, nhưng một phiếu đầy đủ thường gồm các thông tin sau. Đọc phiếu bắt đầu bằng việc kiểm đủ các mục này, trước khi nhìn tới con số:
- Tên phòng thí nghiệm, mã LAS-XD, số phiếu duy nhất, ngày phát hành.
- Tên công trình, hạng mục, cấu kiện hoặc lý trình, lớp vật liệu (ví dụ lớp móng trên, lý trình từ… đến…).
- Thông tin mẫu: loại mẫu, nguồn gốc (mỏ, trạm trộn, xe số…), số hiệu mẫu, ngày lấy, người lấy, người chứng kiến.
- Ngày nhận mẫu và ngày thử; tuổi mẫu với bê tông.
- Tên phép thử và tiêu chuẩn phương pháp áp dụng; thiết bị chính đã dùng.
- Kết quả từng mẫu hoặc từng lần đo, giá trị trung bình, các giá trị trung gian quan trọng (độ ẩm, khối lượng thể tích, dung trọng khô lớn nhất dùng làm mẫu số…).
- Yêu cầu kỹ thuật để so sánh và nguồn của yêu cầu đó (chỉ dẫn kỹ thuật, hồ sơ thiết kế).
- Chữ ký người thí nghiệm, người kiểm tra, trưởng phòng và dấu của đơn vị; ghi chú nếu có điều bất thường khi thử.
Phiếu thiếu mục nguồn gốc mẫu và người chứng kiến là phiếu khó dùng nhất, vì nó không nối được con số với công trình. Phiếu thiếu tiêu chuẩn phương pháp thì không biết thử theo cách nào để so sánh. Phiếu chỉ có kết quả trung bình thì mất thông tin về độ phân tán.
Đối chiếu chéo: phiếu không đứng một mình
Một phiếu thí nghiệm có giá trị khi khớp với những tài liệu khác của công trình. Ngày lấy mẫu trên phiếu phải khớp với nhật ký thi công ngày đó: hôm ấy có thi công hạng mục ấy không, có đổ bê tông cấu kiện ấy không, có rải nhựa đoạn ấy không. Số hiệu mẫu phải có trong biên bản lấy mẫu có chữ ký các bên. Thiết bị ghi trên phiếu phải có giấy hiệu chuẩn còn hạn vào ngày thử.
Ở phòng thí nghiệm, mỗi phép thử có sổ ghi chép gốc: số đọc cân, đồng hồ, khối lượng trước và sau sấy, ghi tay hoặc ghi điện tử ngay lúc thử. Phiếu kết quả là bản tổng hợp từ sổ gốc. Khi có nghi ngờ, quyền xem sổ gốc là quyền chính đáng của chủ đầu tư và tư vấn giám sát, và nên được ghi trong hợp đồng thí nghiệm.
Đối chiếu đơn giản nhất mà ai cũng làm được là xếp các phiếu theo ngày và theo lý trình. Một ngày có quá nhiều điểm thí nghiệm so với khả năng của một tổ thí nghiệm, hay một đoạn đường có phiếu độ chặt trước cả ngày đoạn đó được lu theo nhật ký, là những chỗ cần hỏi lại ngay.
Dấu hiệu một bộ phiếu "đẹp quá"
Kết quả giống nhau bất thường. Vật liệu thật và thi công thật luôn dao động. Một loạt hệ số độ chặt cùng một giá trị tới chữ số thứ ba, một dãy cường độ bê tông gần như bằng nhau ở mọi tổ mẫu, hay độ rỗng dư Marshall không đổi qua nhiều ngày là điều hiếm gặp.
Mọi kết quả đều sát ngưỡng phía đạt. Phân bố tự nhiên của kết quả có cả những giá trị vượt xa ngưỡng và thỉnh thoảng có giá trị không đạt. Một bộ phiếu mà mọi điểm đều đạt sít sao, không điểm nào dư nhiều, không điểm nào hụt, đáng để xem lại.
Không bao giờ có kết quả không đạt. Qua nhiều tháng thi công, việc có vài điểm không đạt rồi được xử lý, thử lại là bình thường và cho thấy hệ thống kiểm soát đang hoạt động. Hồ sơ không có một điểm không đạt nào là hồ sơ đáng hỏi hơn là đáng mừng.
Giá trị trung gian không khớp. Độ ẩm hiện trường quá xa độ ẩm tốt nhất mà độ chặt vẫn cao; mẫu số dung trọng khô lớn nhất không đổi dù vật liệu đã đổi mỏ; kết quả cường độ có trước ngày mẫu đủ tuổi.
Phép thử ngoài danh mục. Phiếu có phép thử không nằm trong danh mục công nhận của phòng, hoặc ghi một tiêu chuẩn phương pháp mà phòng không đăng ký.
Chữ ký và dấu không tự nhiên. Chữ ký giống hệt nhau như in trên hàng trăm phiếu, người ký là người không có mặt ở công trường vào ngày ghi trên phiếu theo sổ ra vào.
Vì sao độ phân tán là con số đáng xem nhất
Người mới đọc phiếu thường chỉ nhìn kết quả trung bình có vượt ngưỡng hay không. Người có kinh nghiệm nhìn độ phân tán trước. Lý do đơn giản: trung bình cao có thể che những điểm rất thấp, và chính những điểm thấp đó là nơi công trình hỏng trước. Đó cũng là lý do nhiều tiêu chuẩn đánh giá cường độ bê tông, độ võng mặt đường dùng giá trị đặc trưng có xét độ lệch chuẩn thay vì trung bình đơn giản.
Ví dụ giả định: hai đoạn đường cùng có hệ số độ chặt trung bình 0,98. Đoạn thứ nhất các điểm nằm trong khoảng 0,97 đến 0,99. Đoạn thứ hai có điểm 1,02 và có điểm 0,93. Trên giấy, cả hai đều "trung bình đạt". Ngoài thực địa, đoạn thứ hai có những chỗ lu thiếu rõ rệt, và nếu chỉ dẫn kỹ thuật yêu cầu từng điểm đều đạt thì đoạn đó không được nghiệm thu.
Ngược lại, độ phân tán quá nhỏ, nhỏ hơn cả sai số lặp lại của chính phương pháp thử, cũng là tín hiệu. Mỗi phương pháp có độ lặp lại riêng: cùng một người, cùng một thiết bị, cùng một mẫu thử lại cũng không ra đúng một con số. Khi các mẫu khác nhau lại cho kết quả gần nhau hơn cả mức đó, nên tìm hiểu vì sao.
Đọc nhanh vài loại phiếu thường gặp trong hồ sơ cầu đường
Mỗi loại phiếu có vài chỗ nên nhìn đầu tiên. Bảng dưới đây giúp tập trung vào những chỗ đó:
| Loại phiếu | Nhìn đầu tiên | Hỏi lại khi |
|---|---|---|
| Độ chặt hiện trường | Dung trọng khô lớn nhất làm mẫu số, độ ẩm, vị trí lý trình từng điểm | Mẫu số không đổi khi vật liệu đổi; độ ẩm xa độ ẩm tốt nhất mà K vẫn cao |
| Nén mẫu bê tông | Cường độ từng viên, tuổi mẫu, cấu kiện tương ứng | Các viên giống nhau bất thường; ngày nén không khớp tuổi |
| Marshall | Độ rỗng dư, hàm lượng nhựa, nơi lấy mẫu | Độ rỗng dư không đổi qua nhiều ngày; không ghi nơi lấy mẫu |
| Khoan mẫu bê tông nhựa | Chiều dày từng mẫu, hệ số độ chặt, vị trí khoan | Mọi mẫu dày đúng bằng thiết kế; vị trí khoan dồn một chỗ |
| Mô-đun đàn hồi | Độ võng từng điểm, hiệu chỉnh nhiệt độ và mùa | Không có hiệu chỉnh; độ võng đồng đều bất thường |
| Thử kéo thép | Lô thép, mác, giới hạn chảy, độ giãn dài | Số lô không khớp chứng chỉ; mẫu lấy không có biên bản |
Những chỗ cần hỏi lại trong bảng không có nghĩa là có gian dối. Chúng có thể do ghi chép sai, nhầm mẫu số, hay một lỗi biểu mẫu. Hỏi sớm và hỏi bằng văn bản giúp làm rõ trước khi các lớp tiếp theo phủ lên.
Khi nghi ngờ một bộ phiếu: trình tự xử lý đúng mực
Nghi ngờ không phải là kết luận. Trình tự dưới đây giúp làm rõ mà không làm căng thẳng không cần thiết:
- Ghi lại cụ thể những điểm bất thường: số phiếu, mục nào, vì sao thấy bất thường, đối chiếu với tài liệu nào.
- Đề nghị bằng văn bản phòng thí nghiệm giải thích và cho xem sổ gốc, giấy hiệu chuẩn thiết bị, biên bản lấy mẫu liên quan.
- Nếu giải thích chưa thoả đáng, đề nghị thí nghiệm kiểm tra đối chứng ở một số vị trí do chủ đầu tư hoặc giám sát chọn, có mặt các bên, ở một phòng thí nghiệm độc lập.
- So sánh kết quả đối chứng với phiếu ban đầu; chênh lệch nằm trong sai số cho phép của phương pháp thì kết thúc, chênh lệch lớn thì mở rộng kiểm tra.
- Xử lý theo hợp đồng và theo quy định hiện hành về quản lý chất lượng công trình; với sai phạm nghiêm trọng, báo cơ quan quản lý xây dựng có thẩm quyền.
Khi cần một phòng thí nghiệm độc lập để làm đối chứng, danh bạ doanh nghiệp cầu đường của trang có nhóm tư vấn, thí nghiệm theo tỉnh; nên chọn đơn vị không có quan hệ với nhà thầu đang thi công và kiểm danh mục phép thử của họ trước.
Chứng chỉ xuất xưởng, CO, CQ và phiếu thí nghiệm: đừng lẫn
Hồ sơ vật liệu cầu đường thường có ba loại giấy dễ bị lẫn với nhau. Chứng chỉ chất lượng của nhà sản xuất (hay gọi CQ) cho biết lô hàng khi xuất xưởng đạt các chỉ tiêu nào, do chính nhà sản xuất tự công bố. Chứng nhận xuất xứ (CO) cho biết hàng được sản xuất ở đâu, quan trọng với hàng nhập khẩu như nhựa đường, cáp dự ứng lực, gối cầu, nhưng không nói gì về chất lượng. Phiếu kết quả thí nghiệm do phòng thí nghiệm độc lập phát hành, trên mẫu lấy tại công trường.
Ba loại giấy bổ sung cho nhau chứ không thay thế nhau. Lô nhựa đường có CQ đẹp vẫn cần mẫu lấy tại công trường thử lại các chỉ tiêu chính, vì nhựa có thể bị đun quá trong quá trình vận chuyển, lưu kho. Lô cáp có CO đúng nước sản xuất vẫn cần thử kéo theo lô. Ngược lại, một phiếu thí nghiệm tại công trường mà không có CQ, CO đi kèm thì không truy được lô hàng về nhà sản xuất khi có vấn đề.
Khi đọc hồ sơ, hãy kiểm số lô xuyên suốt ba loại giấy: số lô trên CQ, số lô trên tờ khai hoặc phiếu giao hàng, số lô ghi trên biên bản lấy mẫu và trên phiếu thí nghiệm. Một số lô không khớp ở bất kỳ khâu nào là dấu hiệu giấy tờ của lô này đang được dùng cho hàng của lô khác.
Câu hỏi thường gặp
Phiếu thí nghiệm có chữ ký số có đáng tin hơn phiếu giấy không?
Chữ ký số giúp xác định ai đã phát hành phiếu và phiếu có bị sửa sau khi ký hay không, nên khó làm giả nội dung sau phát hành hơn. Nhưng nó không bảo đảm mẫu đưa vào phòng là mẫu thật từ công trình. Khâu lấy mẫu có chứng kiến vẫn quan trọng như cũ.
Chủ đầu tư có quyền xem sổ thí nghiệm gốc không?
Thường có, nếu hợp đồng và quy định quản lý chất lượng công trình cho phép, vì kết quả thí nghiệm là căn cứ nghiệm thu mà chủ đầu tư chịu trách nhiệm. Nên ghi rõ quyền này trong hợp đồng với nhà thầu và với đơn vị thí nghiệm ngay từ đầu.
Một điểm thí nghiệm không đạt có làm hỏng cả hồ sơ nghiệm thu không?
Không. Điểm không đạt cần được xử lý theo quy định, ví dụ lu bổ sung rồi thử lại, mở rộng phạm vi kiểm tra, sửa chữa phần không đạt. Hồ sơ ghi đầy đủ điểm không đạt và cách xử lý cho thấy hệ thống kiểm soát chất lượng hoạt động đúng.
Kết quả thí nghiệm đối chứng chênh với phiếu ban đầu bao nhiêu thì đáng lo?
Mỗi phương pháp thử có độ lặp lại và độ tái lập riêng, được nêu trong tiêu chuẩn phương pháp hoặc tài liệu kỹ thuật. Chênh lệch nằm trong mức đó là bình thường. Chênh lệch vượt xa mức đó, nhất là theo một chiều nhất quán, mới là dấu hiệu cần điều tra.
Có phần mềm nào giúp phát hiện phiếu bất thường không?
Bảng tính đơn giản đã đủ cho phần lớn công trình nhỏ: nhập kết quả theo ngày, lý trình, vẽ biểu đồ và tính độ lệch chuẩn. Các dự án lớn dùng hệ thống quản lý chất lượng ghi dữ liệu trực tiếp từ thiết bị. Điều quan trọng là có thói quen nhìn dữ liệu theo dãy, không chỉ từng phiếu.
Ai chịu trách nhiệm khi phiếu thí nghiệm sai?
Tuỳ nguyên nhân và hợp đồng: phòng thí nghiệm chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của kết quả với mẫu đã nhận; bên lấy mẫu chịu trách nhiệm mẫu có đại diện đúng hay không; giám sát chịu trách nhiệm về việc chứng kiến. Quy định hiện hành về quản lý chất lượng công trình phân định cụ thể.