Mua vật tư cầu đường cần ba lớp kiểm: giấy tờ đi kèm lô hàng (CO cho xuất xứ, CQ cho chất lượng, chứng nhận hợp quy nếu thuộc danh mục), sự trùng khớp giữa giấy tờ và hàng thực tế (mã lô, số lượng, nhãn), và kết quả thí nghiệm mẫu lấy ngẫu nhiên từ chính lô đó. Giấy tờ đẹp nhưng không khớp lô, hoặc khớp lô nhưng không có mẫu kiểm, đều chưa đủ cho vật tư chịu lực như cáp, neo, gối cầu.
Bài này dành cho người mua vật tư cho công trình cầu đường (nhà thầu nhỏ, bộ phận mua hàng, chủ đầu tư tự mua cấp cho nhà thầu) và người bán muốn biết khách sẽ kiểm gì. Chi tiết kỹ thuật từng loại vật tư có trong các chuyên mục cầu, dự ứng lực, nền đường và mặt đường của trang; ở đây chỉ bàn chuyện mua và kiểm.
CO, CQ và các giấy tờ khác: mỗi tờ chứng minh điều gì
CO (giấy chứng nhận xuất xứ) chứng minh hàng được sản xuất ở nước nào, do cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền của nước xuất khẩu cấp; ngoài việc chứng minh nguồn gốc, CO còn liên quan đến ưu đãi thuế nhập khẩu. CO không nói gì về chất lượng. CQ (giấy chứng nhận chất lượng, có khi gọi là chứng chỉ xuất xưởng hay mill certificate với thép, cáp) do nhà sản xuất cấp, ghi các chỉ tiêu đã thử của lô hàng và tiêu chuẩn áp dụng.
Bên cạnh đó có thể có: chứng nhận hợp quy nếu vật liệu thuộc danh mục phải chứng nhận theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về vật liệu xây dựng (danh mục thay đổi theo thời gian, cần kiểm bản hiện hành); kết quả thử nghiệm của phòng thí nghiệm độc lập do người bán cung cấp; tờ khai hải quan và hoá đơn cho hàng nhập; catalog, hướng dẫn lắp đặt của nhà sản xuất.
Một sai lầm hay gặp là coi CO như bằng chứng chất lượng ("hàng có CO nước ngoài nên tốt") hoặc coi CQ của nhà sản xuất là đủ mà không lấy mẫu kiểm. CQ là lời công bố của bên bán; thí nghiệm mẫu độc lập là cách người mua kiểm lời công bố đó.
Kiểm gì cho từng loại vật tư cầu đường thường mua
Bảng dưới tóm tắt những điểm chính cần kiểm theo từng nhóm vật tư; chỉ tiêu và tần suất lấy mẫu cụ thể theo tiêu chuẩn và chỉ dẫn kỹ thuật của dự án:
| Vật tư | Giấy tờ chính | Kiểm khi nhận hàng | Thí nghiệm thường yêu cầu |
|---|---|---|---|
| Cáp dự ứng lực (tao 7 sợi) | CQ ghi tiêu chuẩn, cấp bền, số cuộn; CO nếu nhập | Số cuộn khớp CQ, không rỉ sâu, không dập, bảo quản khô | Lực kéo đứt, giới hạn chảy, độ giãn dài, kích thước |
| Neo, nêm, ống gen | CQ, kết quả thử bộ neo của nhà sản xuất | Bề mặt nêm, ren không hỏng; số lượng theo bộ | Thử bộ neo cáp theo yêu cầu dự án |
| Gối cầu cao su cốt bản thép | CQ, bản vẽ gối, kết quả thử của nhà sản xuất | Kích thước, độ phẳng, không nứt, phồng; mã gối khớp bản vẽ | Độ cứng nén, cắt, độ cứng cao su theo yêu cầu |
| Khe co giãn | CQ, bản vẽ chế tạo, hướng dẫn lắp | Chiều dài, độ mở, lớp mạ hoặc sơn, cao su không nứt | Theo hồ sơ nhà sản xuất và yêu cầu dự án |
| Vải địa kỹ thuật | CQ ghi cường độ, khối lượng đơn vị, độ giãn | Nhãn cuộn, khổ, số cuộn, không rách, không phơi nắng lâu | Cường độ kéo, độ giãn, kháng xuyên thủng, kích thước lỗ |
| Nhựa đường | CQ lô, CO nếu nhập | Số lô, tình trạng phuy hoặc bồn, nhiệt độ | Kim lún, điểm hoá mềm, độ kéo dài và các chỉ tiêu khác |
Với vật tư chịu lực chính của cầu (cáp, neo, gối), việc lấy mẫu thí nghiệm độc lập trước khi lắp gần như luôn là yêu cầu của hồ sơ dự án và của tư vấn giám sát. Với công trình nhỏ không có tư vấn, chủ đầu tư nên tự đặt yêu cầu này trong hợp đồng mua.
Đối chiếu giấy tờ với hàng thực tế: làm ngay khi xe đến
Phần lớn rắc rối về giấy tờ vật tư không phải giấy giả hoàn toàn, mà là giấy thật của một lô khác. Kiểm khớp ngay lúc nhận hàng tránh được chuyện này:
- Đọc trên CQ: tên sản phẩm, tiêu chuẩn, cấp hoặc mác, số lô hoặc số cuộn, ngày sản xuất, số lượng. Đánh dấu những con số định danh.
- Đọc trên hàng: nhãn cuộn cáp, thẻ treo, mã in trên gối, nhãn cuộn vải địa, số lô trên phuy nhựa. Đối chiếu từng số với CQ.
- Đếm số lượng thực nhận và so với CQ, hoá đơn, phiếu giao hàng. Số lượng trên CQ ít hơn số giao là dấu hiệu CQ của lô khác bị dùng lại.
- Kiểm ngày sản xuất có hợp lý với thời gian vận chuyển không; giấy ghi ngày sản xuất sau ngày giao hàng hoặc quá xa là đáng hỏi.
- Chụp ảnh nhãn hàng cạnh giấy tờ, lưu kèm biên bản nhận hàng có chữ ký người giao.
- Nếu có điểm không khớp, ghi vào biên bản, chưa đưa hàng vào sử dụng, yêu cầu bên bán giải trình bằng văn bản.
Với hàng nhập khẩu, có thể đối chiếu thêm số lô, khối lượng trên CQ với tờ khai hải quan và chứng từ vận tải mà bên bán cung cấp. Bên bán đàng hoàng thường sẵn sàng cho xem các giấy tờ này.
Lấy mẫu: ai lấy, lấy ở đâu, gửi đi đâu
Mẫu chỉ có giá trị khi đại diện cho lô hàng và không bị tráo. Vì vậy nguyên tắc chung là lấy mẫu ngẫu nhiên từ hàng đã giao đến công trường, có mặt cả bên mua và bên bán (hoặc tư vấn giám sát), niêm phong và cùng ký. Mẫu do bên bán tự mang đến phòng thí nghiệm từ trước không kiểm được lô bạn nhận.
Cách lấy tuỳ vật tư: với cáp, cắt một đoạn ở đầu cuộn được chọn ngẫu nhiên, đủ dài theo yêu cầu thí nghiệm; với vải địa, cắt một khổ ngang cuộn, bỏ vài vòng ngoài cùng; với nhựa đường, lấy từ phuy hoặc van xả theo quy trình; với gối cầu, thường thử trên mẫu cùng lô hoặc gối thử do nhà sản xuất chế tạo theo yêu cầu, vì không thể phá gối dùng cho công trình.
Gửi mẫu tới phòng thí nghiệm chuyên ngành có năng lực được công nhận cho đúng phép thử đó và độc lập với bên bán. Ghi rõ trong phiếu yêu cầu: phép thử nào, theo tiêu chuẩn nào, so với yêu cầu nào. Kết quả về thì so với yêu cầu của hồ sơ thiết kế, không chỉ so với CQ.
Thời gian chờ kết quả cần tính vào tiến độ. Đặt hàng sớm, lấy mẫu ngay khi hàng về, để không rơi vào cảnh hàng đã nằm sẵn trên công trường mà phải chờ kết quả, hoặc tệ hơn là lắp trước, có kết quả sau.
Dấu hiệu giấy tờ hoặc hàng có vấn đề
CQ không có số lô hoặc số lô chung cho mọi lần giao. CQ là cho một lô cụ thể. Một tờ CQ dùng cho nhiều đợt giao khác nhau trong nhiều tháng thì không còn chứng minh được lô nào.
Mọi chỉ tiêu đều đẹp tròn trịa hoặc sát giới hạn. Kết quả thử thật có dao động; cột số liệu y hệt nhau qua nhiều mẫu, hoặc toàn bộ sát mép giới hạn, là chỗ nên lấy mẫu kiểm kỹ.
Bản chụp mờ, sửa chữa, không có chữ ký hoặc dấu. Yêu cầu bản có xác nhận của bên bán và, nếu cần, liên hệ nhà sản xuất để xác minh số chứng chỉ.
Hàng có dấu hiệu bảo quản kém. Cáp rỉ thành vảy, rỗ mặt; vải địa phơi nắng lâu bạc màu, giòn; gối cao su nứt, phồng; nhựa phuy thủng. Giấy tờ đúng nhưng hàng hỏng do lưu kho thì vẫn không dùng được.
Giá thấp bất thường so với mặt bằng. Không phải lúc nào cũng là hàng kém, nhưng nên kiểm kỹ hơn bình thường: hàng tồn lâu, hàng loại hai, hàng khác tiêu chuẩn so với yêu cầu.
Hợp đồng mua vật tư: ghi những gì để có quyền từ chối
Hợp đồng mua vật tư cầu đường nên ghi rõ tiêu chuẩn và cấp chất lượng yêu cầu (không chỉ tên thương mại), các giấy tờ bắt buộc đi kèm mỗi lô, quyền của bên mua được lấy mẫu kiểm tại công trường, phòng thí nghiệm do ai chọn, ai trả chi phí thí nghiệm (thường bên mua trả nếu đạt, bên bán trả nếu không đạt), và hệ quả khi không đạt: bên bán phải thu hồi, thay lô khác, chịu chi phí vận chuyển.
Với vật tư đặt sản xuất riêng như gối cầu, khe co giãn theo kích thước, nên có bước duyệt bản vẽ chế tạo trước khi sản xuất và quyền kiểm tra tại xưởng hoặc chứng kiến thử nghiệm. Sản xuất xong rồi mới phát hiện sai kích thước thì việc làm lại tốn thời gian hơn nhiều so với duyệt kỹ từ đầu.
Cuối cùng là điều kiện bảo quản và giao hàng: thời điểm giao khớp tiến độ để hàng không phải nằm lâu ngoài công trường; cách đóng gói (cáp có bọc chống ẩm, vải địa có bọc chống tia cực tím); ai chịu trách nhiệm nếu hàng hư trong lúc vận chuyển. Những điều này nghe nhỏ nhưng là nguyên nhân phổ biến khiến vật tư tốt trở thành vật tư không dùng được.
Câu hỏi thường gặp
Hàng sản xuất trong nước có cần CO không?
CO chủ yếu dùng cho hàng xuất nhập khẩu. Hàng sản xuất trong nước thường không có CO theo nghĩa đó, nhưng vẫn phải có giấy chứng nhận chất lượng của nhà sản xuất và, nếu thuộc danh mục, chứng nhận hợp quy. Người mua nên yêu cầu thêm kết quả thử nghiệm độc lập cho vật tư chịu lực.
Có thể dùng kết quả thí nghiệm do bên bán cung cấp thay cho tự lấy mẫu không?
Có thể tham khảo, nhất là với vật tư không chịu lực chính. Với cáp, neo, gối cầu, vải địa gia cường, nên lấy mẫu từ lô thực nhận để thí nghiệm, vì kết quả của bên bán có thể là của lô khác. Hồ sơ dự án thường quy định rõ việc này.
Vật tư không đạt thí nghiệm nhưng nhà thầu đã lắp một phần thì sao?
Dừng lắp phần còn lại, báo tư vấn thiết kế và giám sát để đánh giá ảnh hưởng của phần đã lắp; tuỳ mức độ có thể phải tháo ra thay. Đây là lý do nên chờ kết quả trước khi lắp vật tư chịu lực, và ghi rõ trách nhiệm chi phí trong hợp đồng mua.
Có cần mua đúng hãng ghi trong thiết kế không?
Hồ sơ thiết kế đúng ra nên chỉ định yêu cầu kỹ thuật thay vì một hãng cụ thể. Nếu muốn dùng hàng tương đương, cần chứng minh đáp ứng đủ các chỉ tiêu yêu cầu và được người thiết kế hoặc tư vấn giám sát chấp thuận bằng văn bản trước khi đặt hàng.
Bảo quản cáp dự ứng lực ở công trường cần lưu ý gì?
Kê cao khỏi mặt đất, che mưa nắng, tránh ngập nước, tránh hàn cắt gần đó, không kéo lê cuộn cáp trên nền. Cáp rỉ nhẹ bề mặt có thể chấp nhận theo đánh giá của giám sát, nhưng rỉ thành vảy hoặc rỗ thì không dùng. Nhập hàng theo tiến độ để cáp không phải nằm lâu.