Thảm bê tông nhựa nóng là rải hỗn hợp bê tông nhựa còn nóng bằng máy rải thành lớp đều, rồi lu lèn ngay khi hỗn hợp còn đủ nhiệt để đạt độ chặt thiết kế. Ba yếu tố quyết định một lớp thảm bền là nhiệt độ của hỗn hợp ở từng khâu, cách lu (lúc nào, loại lu nào, thứ tự ra sao) và cách xử lý mối nối giữa các vệt rải, giữa ca hôm trước và ca hôm sau.
Phần lớn hư hỏng sớm của mặt đường nhựa mới, như rỗ mặt, nứt dọc giữa đường, bong mép, thấm nước, đều truy được về một trong ba khâu này. Bài này tập trung vào kỹ thuật riêng của lớp bê tông nhựa; trình tự làm cả con đường từ nền đến mặt được bàn ở chuyên mục thi công đường của trang.
Trước khi xe bê tông nhựa đầu tiên tới
Một ca thảm thuận lợi bắt đầu từ trước đó một ngày. Những việc cần xong trước giờ rải:
- Mặt lớp dưới đã nghiệm thu: đúng cao độ, mui luyện, độ bằng phẳng; không còn chỗ lún, chỗ rời.
- Mặt sạch, khô; lớp thấm bám hoặc dính bám đã tưới đúng lượng và đã đủ thời gian (nhũ tương chuyển màu đen).
- Cọc, dây cao độ hoặc hệ thống cảm biến dẫn hướng cho máy rải đã được cắm và kiểm tra; mép rải được đánh dấu.
- Mép bó vỉa, nắp hố ga, mép cấu kiện tiếp giáp được quét lớp dính bám để bê tông nhựa dính vào.
- Đủ lu cho tốc độ rải: thiếu lu là nguyên nhân hay gặp khiến hỗn hợp nguội trước khi được lèn xong.
- Lịch xe trộn khớp với tốc độ máy rải; có người liên lạc với trạm để điều xe, tránh máy rải phải dừng chờ.
- Xem dự báo thời tiết; chuẩn bị bạt che, phương án dừng khi mưa.
- Biển báo, rào chắn, người cảnh giới, phương án cho xe đi một nửa đường nếu đường đang khai thác.
Nhiều mối nối xấu, nhiều chỗ lồi lõm không do kỹ năng thợ mà do máy rải phải dừng vì hết xe. Mỗi lần dừng, bàn là của máy nguội đi, hỗn hợp dưới bàn là nguội đi, và khi chạy lại sẽ để lại một gờ ngang trên mặt đường.
Nhiệt độ ở từng khâu: thứ quyết định lu có chặt được không
Bê tông nhựa chỉ lu chặt được trong một khoảng nhiệt độ nhất định: nóng quá thì xô dưới bánh lu, nguội quá thì nhựa đã cứng, lu nặng mấy cũng không lèn thêm. Bảng dưới là các khâu cần đo và mức thường gặp với bê tông nhựa dùng nhựa 60/70; con số thật theo chỉ dẫn kỹ thuật dự án, và bê tông nhựa polymer hay trộn ấm có ngưỡng khác:
| Khâu | Mức thường gặp (nhựa 60/70) | Vì sao cần để ý |
|---|---|---|
| Xuất trạm | Khoảng 150–160 °C | Quá cao làm nhựa già và khói nhiều; quá thấp thì không đủ “vốn nhiệt” cho quãng đường |
| Khi đổ vào máy rải | Thường không thấp hơn khoảng 120 °C | Xe dưới ngưỡng nên từ chối, không cố rải |
| Bắt đầu lu sơ bộ | Ngay sau máy rải, khi còn trên khoảng 120 °C | Thời điểm hỗn hợp dễ lèn nhất |
| Lu chính | Trong khi còn đủ nóng, thường trên khoảng 90–100 °C | Phần lớn độ chặt đạt được ở giai đoạn này |
| Kết thúc lu hoàn thiện | Thường trên khoảng 70 °C | Xoá vệt bánh lu; nguội hơn nữa lu không còn tác dụng |
| Cho xe chạy | Khi mặt đã nguội, thường dưới khoảng 50 °C | Còn nóng xe sẽ hằn vệt, xô mặt |
Đo bằng nhiệt kế que cắm vào hỗn hợp, không chỉ bằng súng hồng ngoại đo bề mặt. Trời gió, lạnh, lớp rải mỏng thì hỗn hợp nguội rất nhanh, “cửa sổ” để lu có khi chỉ còn vài phút; lúc đó phải tăng lu, rút ngắn khoảng cách giữa lu và máy rải, hoặc hoãn rải.
Máy rải: đều và liên tục quan trọng hơn nhanh
Tốc độ đều. Máy rải chạy đều tay cho lớp rải có độ chặt ban đầu đều và mặt phẳng. Tăng giảm tốc liên tục để chạy theo xe làm mặt rải gợn sóng. Tốc độ được chọn sao cho khớp với lượng xe trạm cung cấp và số lu phía sau.
Phễu và guồng xoắn luôn có hỗn hợp. Để phễu cạn rồi mới đổ xe mới làm hỗn hợp nguội ở hai cánh phễu đổ vào giữa, sinh ra những vệt rỗ hình chữ V lặp lại. Thợ lái máy giữ mức hỗn hợp trước bàn là ổn định, phủ khoảng hai phần ba guồng xoắn.
Bàn là được sấy nóng trước khi rải. Bàn là nguội làm hỗn hợp dính và xé mặt ở đoạn đầu. Đầu ca và sau mỗi lần dừng lâu phải sấy lại.
Hạn chế cào tay. Thợ cào tay chỉ để sửa mép, chỗ thiếu; cào tung lên mặt đã rải làm phân tầng, đá to nổi lên. Mặt rải đẹp nhất là mặt máy để lại, ít người động vào nhất.
Chiều dày rải tính cả độ lún khi lu. Bê tông nhựa khi rải còn xốp, lu xong sẽ mỏng đi. Chiều dày rải ban đầu lớn hơn chiều dày thiết kế theo một hệ số lu lèn xác định trên đoạn rải thử.
Lu lèn: ba giai đoạn và vài quy tắc hiện trường
Lu bê tông nhựa thường chia ba giai đoạn. Lu sơ bộ đi sát sau máy rải, bằng lu bánh thép nhẹ hoặc lu rung chạy không rung, làm ổn định lớp rải để lu nặng lên không xô. Lu chính, thường bằng lu bánh lốp nặng và lu rung, đem lại phần lớn độ chặt: bánh lốp nhào trộn bề mặt, làm kín các lỗ rỗng nhỏ; lu rung lèn sâu. Lu hoàn thiện bằng lu bánh thép tĩnh, xoá vệt bánh lu, làm phẳng mặt. Loại lu, số lượt cụ thể được chốt trên đoạn rải thử bằng cách đo độ chặt sau mỗi tổ hợp.
Một vài quy tắc hiện trường giúp tránh lỗi phổ biến. Lu từ mép thấp lên mép cao của mặt cắt, để hỗn hợp không bị đẩy trôi xuống. Bánh chủ động của lu bánh thép đi về phía máy rải, để bánh lăn ép xuống chứ không đẩy hỗn hợp ra trước. Không dừng, không đổi hướng, không quay đầu lu trên mặt nhựa còn nóng; mỗi chỗ dừng là một vết lõm. Vệt lu sau chồng lên vệt trước một phần, lu đến đâu chắc đến đó.
Bánh lu phải được làm ẩm nhẹ để hỗn hợp không dính bánh, nhưng không tưới sũng nước làm hỗn hợp nguội nhanh. Lu bánh lốp đầu ca hay bị dính nhựa vì lốp còn nguội; chạy ở mép hoặc trên phần đã nguội một lúc cho lốp ấm lên rồi mới vào lu chính.
Mối nối dọc và mối nối ngang: làm cho đúng
Mối nối là chỗ yếu nhất của một lớp thảm, vì ở đó hai phần hỗn hợp có nhiệt độ khác nhau gặp nhau và mép ngoài của vệt trước thường kém chặt hơn phần giữa. Cách làm theo nguyên lý:
- Bố trí vệt rải sao cho mối nối dọc không nằm ngay vệt bánh xe; mối nối dọc của lớp trên lệch so với lớp dưới một khoảng, không chồng thẳng lên nhau.
- Ưu tiên rải nóng kề nóng: hai máy rải chạy so le, hoặc vệt sau rải khi mép vệt trước còn nóng, để hai bên hoà vào nhau.
- Nếu mép vệt trước đã nguội: cắt bỏ phần mép kém chặt thành mặt thẳng đứng, quét sạch, quét dính bám lên mặt cắt rồi mới rải vệt kề.
- Khi rải vệt kề, cho hỗn hợp chồng nhẹ lên mép cũ một chút, gạt phần chồng thừa về phía hỗn hợp mới trước khi lu, không rắc lên mặt vệt cũ.
- Lu mối nối dọc: bánh lu chủ yếu nằm trên vệt cũ, chỉ lấn sang vệt mới một phần nhỏ ở lượt đầu, rồi lấn dần, để ép phần mới vào sát mép cũ.
- Mối nối ngang cuối ca: kết thúc bằng mặt cắt vuông góc với tim đường; hôm sau cắt bỏ phần đầu mỏng kém chặt, quét dính bám, đặt máy rải lùi lại sao cho bàn là nằm trên mép cũ, rồi rải tiếp.
- Kiểm độ phẳng mối nối ngang bằng thước dài ngay khi lu sơ bộ, sửa lúc hỗn hợp còn nóng.
Mối nối làm ẩu sẽ mở thành vết nứt dọc sau vài tháng, nước theo đó xuống móng. Đó là lý do nhiều chỉ dẫn kỹ thuật yêu cầu trám kín mối nối nguội, và người giám sát hay đi dọc mối nối đầu tiên.
Thời tiết, nghiệm thu bằng mắt và lúc thông xe
Mưa là dừng. Không rải bê tông nhựa khi đang mưa hoặc mặt lớp dưới còn đọng nước. Hỗn hợp đã rải mà gặp mưa trước khi lu xong thì nguội đột ngột, không đạt độ chặt; đoạn đó thường phải cào bỏ làm lại. Xe trên đường đến công trường gặp mưa phải che bạt kín.
Nhìn mặt thảm vừa lu xong. Mặt tốt có màu đều, kết cấu đều, không có vệt rỗ, không có đốm đá to tụ lại, không có vệt chảy nhựa bóng loáng, không có gờ ở mối nối. Dùng thước ba mét đặt ngang và dọc để thấy khe hở dưới thước.
Kiểm độ chặt và chiều dày bằng khoan mẫu. Sau khi nguội, khoan lấy mẫu lõi ở các vị trí theo quy định để đo chiều dày và độ chặt so với mẫu chuẩn trong phòng thí nghiệm. Đây là phần việc của phòng thí nghiệm và tư vấn giám sát, nhưng chủ đầu tư nên xin kết quả.
Không thông xe sớm. Mặt nhựa còn ấm, xe nặng dừng đỗ hay quay đầu sẽ hằn vệt lún không hồi lại. Đợi mặt nguội theo chỉ dẫn, nhất là ở nút giao và chỗ xe dừng.
Ghi nhật ký. Mỗi xe: giờ đến, nhiệt độ, vị trí rải; mỗi đoạn: số lượt lu, thời tiết. Khi một đoạn hỏng sớm, nhật ký giúp tìm ra nguyên nhân thay vì đổ lỗi chung chung.
Thảm nhựa cho công trình nhỏ: đường nội bộ, sân bãi
Với đường nội bộ nhà xưởng, sân bãi, đường khu dân cư, khối lượng nhỏ và mặt bằng chật làm khâu thảm khó hơn ở đường lớn: xe trộn phải đi xa, máy rải nhỏ, nhiều góc, nhiều nắp hố ga và mép tường phải cào tay. Những chỗ cào tay và chỗ máy lu lớn không vào được cần lu nhỏ hoặc đầm bàn để đạt độ chặt; đây là nơi hay hỏng đầu tiên.
Khi đặt hàng, hỏi rõ nhà thầu: rải bằng máy rải hay thủ công, có bao nhiêu lu và loại gì, trạm trộn ở đâu và cách bao xa, xử lý mối nối ra sao, có khoan mẫu kiểm chiều dày không. Một báo giá chỉ ghi “thảm nhựa dày năm phân” mà không nói gì về máy và cách làm thì rất khó so với báo giá khác.
Muốn có vài đơn vị chuyên thảm bê tông nhựa ở tỉnh mình để so sánh cách làm và báo giá, bạn có thể tra danh bạ doanh nghiệp cầu đường của trang, chọn nhóm bê tông nhựa và lọc theo tỉnh.
Câu hỏi thường gặp
Thảm nhựa ban đêm có tốt không?
Thảm ban đêm phổ biến ở đô thị để tránh giờ cao điểm. Về kỹ thuật vẫn làm được nếu đủ đèn chiếu sáng, kiểm soát nhiệt độ chặt hơn vì trời mát làm hỗn hợp nguội nhanh, và an toàn giao thông được tăng cường. Chất lượng phụ thuộc tổ chức thi công, không phụ thuộc giờ.
Một lớp thảm dày năm centimét có cần lu rung không?
Tuỳ hỗn hợp và thiết bị; lu rung giúp đạt độ chặt nhanh hơn với lớp dày vừa, nhưng với lớp mỏng dễ làm vỡ đá và gợn mặt nếu dùng sai biên độ, tần số. Tổ hợp lu cụ thể nên được xác định trên đoạn rải thử bằng cách đo độ chặt.
Vì sao mặt đường mới thảm có vệt rỗ hình chữ V lặp lại?
Thường do phân tầng ở máy rải: để phễu cạn rồi gập cánh phễu, phần hỗn hợp nguội và đá to ở hai cánh đổ dồn vào giữa. Cũng có thể do xe đổ hỗn hợp đã phân tầng từ trạm. Cách khắc phục là giữ phễu luôn có hỗn hợp và không gập cánh phễu thường xuyên.
Rải bê tông nhựa lên mặt hơi ẩm sau mưa nhỏ được không?
Không nên. Hơi ẩm làm lớp dính bám không hiệu quả, hỗn hợp tiếp xúc mặt ẩm nguội nhanh ở đáy, và hơi nước bốc lên có thể tạo túi rỗng. Chờ mặt khô hẳn, làm sạch, kiểm lại lớp dính bám rồi mới rải.
Làm sao biết thảm có đủ dày như hợp đồng?
Cách tin cậy là khoan mẫu lõi sau khi nguội ở vị trí ngẫu nhiên, đo chiều dày và độ chặt. Có thể kết hợp đo cao độ trước và sau khi thảm. Đo chiều dày lúc vừa rải chưa lu sẽ cho số lớn hơn thực tế vì hỗn hợp còn xốp.
Có nên rải một lớp mỏng trên nắp hố ga thấp hơn mặt đường?
Không nên. Lớp nhựa mỏng trên nắp kim loại không dính và vỡ ngay. Đúng cách là nâng cổ hố ga, nắp ga lên đúng cao độ mặt đường mới trước khi thảm, chèn chặt xung quanh, rồi rải và lu sát mép.